ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VÀ KHẲNG ĐỊNH TÍNH ƯU VIỆT CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
Qua hơn 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận và thực tiễn về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Từ việc thừa nhận kinh tế nhiều thành phần, phát triển sản xuất hàng hóa và vận hành theo cơ chế thị trường, Đảng từng bước xác định đây là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh, các quan điểm sai trái tiếp tục tập trung xuyên tạc bản chất của mô hình này, phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước, xuyên tạc chủ trương phát triển kinh tế tư nhân và từ đó hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Việc nhận diện đúng, phản bác có cơ sở khoa học và khẳng định giá trị thực tiễn của mô hình vì vậy là nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
1.
Tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam
Nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là một mô hình kinh tế đặc thù, được
hình thành từ thực tiễn cách mạng và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là một sự lắp ghép
khiên cưỡng giữa hai yếu tố đối lập mà là một chỉnh thể thống nhất, vận hành
theo các quy luật khách quan của thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Nhận thức về kinh tế
thị trường của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bước tiến dài, từ việc coi thị
trường chỉ là công cụ thứ yếu trong cơ chế tập trung, bao cấp đến việc xác định
kinh tế thị trường là phương thức tồn tại tất yếu của nền kinh tế trong suốt thời
kỳ quá độ. Đại hội VI (1986) đã mở đầu cho tư duy đổi mới bằng việc thừa nhận sự
tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần. Đến Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục khẳng
định chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặc biệt
là phát huy vai trò của các thành phần kinh tế đối với sự phát triển của đất nước.
Theo đó, Đại hội VII, Đảng ta đi đến nhận thức “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991). Đến Đại hội VIII, Đảng ta nhận thức
rõ “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát
triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 1996). Đến Đại hội IX, Đảng ta chính thức xác định “mô hình
kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001).
Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính thức được Đảng
Cộng sản Việt Nam xác định từ Đại hội IX, đây là sự chuyển biến lớn về nền tảng
lý luận phát triển đất nước trong “Thời kỳ đổi mới”. Đến Đại hội X, Đảng ta khẳng
định “Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2016). Đại hội X của Đảng cũng khẳng định mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ văn minh; Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức
sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích
mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng
bước khá giả hơn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006). Đến Đại hội XI, Đảng ta đưa
ra: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế
thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ
sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Đến Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ,
đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền
kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2016). Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục xác định “Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế,
vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2021). Đại hội XIV, Đảng ta một lần nữa khẳng định (1) “Kinh tế thị trường
định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có sự gắn kết hữu
cơ và biện chứng giữa tính thị trường, tính nhân loại với tính XHCN, tính đặc
thù riêng có của Việt Nam; đó là "Một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo
những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi
phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội". (2) Kinh tế thị
trường định hướng XHCN mà Việt Nam đang xây dựng là "một kiểu kinh tế thị
trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường"; là sự vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2026).
Như vậy, từ tổng kết
lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
trong hành trình hơn 40 năm đổi mới có thể khẳng định rằng đây là mô hình kinh
tế rất đặc biệt, riêng có của Việt Nam; đó là mô hình kinh tế đúng đắn, sáng tạo,
phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển của cách mạng, đất nước Việt Nam
trong qua từng giai đoạn nhất định. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam là kết tinh những giá trị tinh hoa của nhân loại, gắn với
thực tiễn của Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh mới về sự phát triển vượt bậc
của khoa học công nghệ, chuyển đổi số, các nguồn lực phát triển mới đáp ứng yêu
cầu, mục tiêu vươn mình phát triển của đất nước, Đảng ta cũng khẳng định vai
trò nòng cốt của các thành phần kinh tế cho sự phát triển đất nước. Theo đó, Đảng
ta xác định “Phát triển kinh tế nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc
bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền
kinh tế. Phát triển kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng nhất của
nền kinh tế quốc gia; chú trọng phát triển các tập đoàn tư nhân Việt Nam lớn mạnh,
có tầm chiến lược, hỗ trợ tích cực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế hợp
tác, kinh tế tập thể, hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp tiếp cận đất đai, vốn,
công nghệ, thị trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
2.
Các luận điệu sai trái, xuyên tạc về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Các quan điểm sai
trái, xuyên tạc và cho rằng nền kinh tế thị trường là sản phẩm của chủ nghĩa tư
bản. Đây là quan điểm sai lầm, phi khoa học, không tuân theo các quy luật phát
triển. Mục đích của luận điểm này nhằm đánh đồng với chủ nghĩa tư bản, qua đó
làm chệch đi định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng.
Từ luận điệu đó, các thế lực gây sức ép lên hệ thống chính trị, tạo dư luận xấu
trong nhân dân. Ngoài ra, các luận điệu sai trái, xuyên tạc nền kinh tế thị trường
và định hướng xã hội chủ nghĩa là mâu thuẫn nhau. Các luận điệu sai trái cho rằng,
phát triển kinh tế thị trường là đi theo mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa,
không phải là mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Các luận điệu sai
trái, thù địch còn cho rằng vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam là “trói buộc, kìm hãm” sự phát triển, làm giảm sức cạnh
tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Luận điệu sai trái, thù địch này sử dụng kết
quả hoạt động của một số ít các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả để
che mờ toàn bộ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực tiễn ở Việt Nam, kinh tế nhà nước
đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế; đồng thời, kinh tế nhà nước đóng vai
trò kiến tạo phát triển cho mọi thành phần kinh tế khác phát triển.
Các luận điệu sai
trái, thù địch tập trung phủ nhận quan điểm, định hướng phát triển của Đảng Cộng
sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng
nhất của nền kinh tế Việt Nam. Các luận điệu sai trái, thù địch cho rằng phát
triển kinh tế tư nhân là đi ngược với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, dẫn đến
bóc lột, làm suy yếu vai trò của kinh tế nhà nước. Đặc biệt, các thế lực thù địch
xuyên tạc nhằm mục đích hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong lãnh đạo, định hướng, kiến tạo phát triển đất nước.
3.
Phản bác các quan điểm sai trái thù địch và khẳng định tính ưu việt của mô hình
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam
3.1.
Về lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam là lựa chọn sáng suốt, mang tính thời đại, phù hợp với thực tiễn ở Việt
Nam.
Trước hết, chúng ta cần
khẳng định rằng “nền kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại”,
đây cũng là khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng
hóa và có mầm mống từ rất sớm, cơ chế vận hành thông qua trao đổi hàng hóa. Nền
kinh tế thị trường được hình thành và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế -
xã hội khác nhau. Nó là phương thức tổ chức kinh tế dựa trên sự phân công lao động
xã hội và đa dạng hóa sở hữu. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng cơ chế thị trường
để thúc đẩy lực lượng sản xuất là sự tiếp thu các giá trị phổ quát của nhân loại
để phục vụ cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa. "Định hướng xã hội chủ
nghĩa" không phải là một sự áp đặt chính trị bên ngoài mà là mục tiêu tự
thân của quá trình phát triển: kinh tế phát triển để phục vụ con người, chứ
không phải con người phục vụ cho sự tích lũy vốn.
Kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang trong mình những đặc trưng vừa
chung của kinh tế thị trường nhân loại, vừa riêng biệt của chế độ xã hội chủ
nghĩa. Nó bao hàm sự đa dạng về hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng
cố, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế quốc dân. Cơ chế vận hành của nền
kinh tế này là sự kết hợp giữa "bàn tay vô hình" của thị trường và
"bàn tay hữu hình" của Nhà nước. Thị trường đóng vai trò chủ yếu
trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển, là động lực giải phóng
sức sản xuất. Trong khi đó, Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng thể chế,
tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và sử dụng các công cụ điều tiết để bảo đảm
các cân đối vĩ mô, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Sự định hướng này
không làm triệt tiêu tính năng động của thị trường mà tạo ra một khung khổ ổn định,
giúp thị trường phát triển bền vững hơn, tránh được những cuộc khủng hoảng chu
kỳ và sự phân hóa giàu nghèo cực đoan thường thấy trong kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa.
Thứ hai, các đối tượng
chống phá thường tập trung công kích vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, cho
rằng đây là nguồn gốc của độc quyền, kém hiệu quả và kìm hãm sự phát triển của
kinh tế tư nhân. Họ đòi hỏi phải "tư nhân hóa" toàn bộ nền kinh tế và
rút Nhà nước ra khỏi mọi hoạt động kinh doanh để có một nền kinh tế thị trường
"tự do" tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn phiến diện và thiếu thực
tế. Kinh tế nhà nước ở Việt Nam, bao gồm ngân sách, dự trữ quốc gia, tài nguyên
thiên nhiên và các doanh nghiệp then chốt, là lực lượng vật chất quyết định để
Nhà nước điều tiết vĩ mô và xử lý các "khuyết tật" của thị trường.
Trong những giai đoạn khủng hoảng toàn cầu hay thiên tai dịch bệnh, chính kinh
tế nhà nước là "tấm khiên" bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng
lượng và ổn định đời sống nhân dân mà các thành phần kinh tế tư nhân khó lòng đảm
đương nổi. Vai trò "chủ đạo" không đồng nghĩa với sự độc quyền hay
chèn ép, mà là sự tiên phong ở những lĩnh vực trọng yếu, rủi ro cao hoặc cần vốn
lớn mà tư nhân chưa thể tham gia, từ đó tạo nền tảng và dẫn dắt các thành phần
kinh tế khác cùng phát triển. Những sai sót tại một số doanh nghiệp nhà nước là
vấn đề về quản trị cụ thể, đang được Đảng và Nhà nước quyết liệt xử lý thông
qua cơ cấu lại, không thể đánh đồng với sự thất bại của cả một chủ trương đúng
đắn. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị cũng đã khẳng định
vai trò, vị thế của kinh tế nhà nước là “thành phần đặc biệt quan trọng, giữ
vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số và chuyển đổi xanh”.
Thứ ba, các thế lực
thù địch phản bác quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư
nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, nhằm phủ nhận vai trò của
kinh tế nhà nước, chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là luận điệu hết sức phản
khoa học, sai trái và không có căn cứ khoa học. Trước hết một điều cần khẳng định
rằng, kinh tế tư nhân là một bộ phận đặc biệt trong mọi nền kinh tế, là nơi
phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội cho sự phát triển của mọi quốc gia, dân
tộc. Khu vực kinh tế tư nhân là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đổi mới,
chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
nhất quán và khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng
nhất, nhưng điều đó không phải là duy nhất. Để đưa đất nước trở thành nước công
nghiệp phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
XIV của Đảng đòi hỏi yêu cầu, nhiệm vụ huy động mọi nguồn lực cho mục tiêu phát
triển, trong đó kinh tế tư nhân là một nguồn lực được xem là quan trọng nhất.
Ngoài ra, có nhiều nguồn lực quan trọng nhất khác đóng góp vào sự nghiệp phát
triển đó được Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra như: khoa học công nghệ, đổi mới
sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế số, nguồn lực con người, đại đoàn kết toàn dân
tộc… Do đặc thù thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân giúp giải phóng sức sản xuất
xã hội, đặc biệt là nguồn lực trong Nhân dân ở Việt Nam hiện nay là rất lớn
nhưng chưa được đưa vào sự phát triển mà chủ yếu dưới dạng tiết kiệm. Nghị quyết
68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị cũng chỉ ra kinh tế tư nhân ở nước ta
chưa phát triển đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng là lực lượng nòng cốt của
kinh tế đất nước, hầu hết các doanh nghiệp ở quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, tiềm
lực hạn chế. Vì vậy, việc khẳng định vai trò động lực quan trọng nhất trong thời
gian tới là quan điểm, định hướng đưa khu vực kinh tế tư nhân thực sự đóng góp
vào sự phát triển đất nước; kinh tế tư nhân đóng góp vào mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, công bằng, văn minh; mọi người dân có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, không ai bị bỏ lại phía sau.
Thứ tư, bản chất định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được khẳng định là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Cốt lõi của mọi quyền lực thuộc về nhân dân, tất cả vì mục
tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phát triển vì con người.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là xây dựng nền
kinh tế phát triển nhanh, bền vững, gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội;
không "trung lập" về chính trị mà hướng tới mục tiêu XHCN; lấy sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân, lấy đó làm động lực xây dựng đất nước.
3.2.
Thành tựu kinh tế - xã hội khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là lựa chọn sáng suốt của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam
Tính đúng đắn và ưu
việt của một nền kinh tế không nằm ở những lời tuyên bố suông mà phải được kiểm
chứng bằng những con số cụ thể và sự thay đổi trong đời sống thực tế của nhân
dân. Sau hơn 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu mà bạn bè quốc
tế gọi là "kỳ tích".
Sự
bứt phá về quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế: Từ một nền kinh tế lạc hậu, thiếu hụt lương thực trầm trọng,
Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng
hàng đầu thế giới trong nhiều năm liên tiếp. Quy mô nền kinh tế không ngừng được
mở rộng, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và gia nhập nhóm nước
có thu nhập trung bình cao. Sự tăng trưởng này không chỉ dựa trên số lượng
mà còn có sự chuyển biến về chất lượng. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
ngày càng tăng. Việt Nam đã trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng của khu
vực, lũy kế đến tháng 12/2025 đạt 529,6 tỷ USD vốn FDI đăng ký, với sự hiện diện
của hầu hết các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu. Điều này khẳng định môi trường đầu
tư tại Việt Nam dưới mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
an toàn, minh bạch và đầy tiềm năng. Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ nền
kinh tế nghèo, lạc hậu sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ngày càng hoàn thiện, hội nhập sâu rộng. Trước đổi mới, thu nhập bình quân đầu
người chỉ khoảng 125–200 USD/năm và lạm phát tháng 12/1986 lên tới 774,7%; sau
40 năm, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Báo
cáo nêu GDP năm 2024 đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD; GDP
theo PPP khoảng 1.559 tỉ USD; GDP bình quân đầu người đạt 4.700 USD. Giai đoạn
2016–2025, tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,2%/năm. Về hội nhập, đến
tháng 10/2024 Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và
vùng lãnh thổ, ký 17 FTA với trên 60 đối tác. Đặc biệt, tính đến cuối năm 2025,
quy mô GDP của Việt Nam đạt 514 tỷ USD, xếp 32 thế giới (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2026). Điều này chứng tỏ rằng, việc lựa chọn xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là lựa chọn sáng suốt, hiệu quả, thời đại của Đảng,
Nhà nước và Nhân dân Việt Nam.
Giải
quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội: Điểm khác biệt lớn nhất và cũng là tính ưu việt nhất của
mô hình kinh tế Việt Nam so với các nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa chính
là việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển.
Chúng ta không chấp nhận "tăng trưởng trước, xã hội sau" mà coi việc
cải thiện đời sống Nhân dân là mục tiêu tối thượng. Thành tựu giảm nghèo của
Việt Nam là một minh chứng đanh thép. Tỷ lệ người nghèo đã giảm mạnh từ 58% năm
1993 xuống còn khoảng 5% năm 2020 và tiếp tục giảm sâu theo chuẩn nghèo đa chiều
mới. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam hiện đạt 0,726, liên tục
thăng hạng trong bảng xếp hạng toàn cầu. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng
từ 62 tuổi (1990) lên 75 tuổi, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình
quân đầu người. Các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội
được mở rộng, bao phủ đến các đối tượng yếu thế và vùng sâu vùng xa, tạo nên một
xã hội ổn định và nhân văn. Các chính sách xã hội được phát triển theo hướng an
sinh xã hội đa tầng, hiện đại, bao phủ toàn dân, thu hẹp chênh lệch giàu nghèo,
vừa khuyến khích làm giàu chính đáng vừa giảm nghèo nhanh và bền vững. Các
chính sách người có công, trợ giúp xã hội, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp
trong COVID-19 được thực hiện kịp thời, cùng với mở rộng bảo hiểm xã hội, phát
triển hệ thống y tế và bảo đảm phúc lợi xã hội cho người dân.
Đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, các chỉ tiêu phát triển con người và phúc
lợi xã hội đều tiến bộ. Báo cáo cho biết chỉ
số hạnh phúc của Việt Nam tăng từ 5,061 điểm, xếp thứ 94/149 năm 2016 lên vị
trí 46 năm 2025; HDI đạt 0,766. Chi ngân sách cho giáo dục cũng tăng mạnh, từ
hơn 178 nghìn tỉ đồng năm 2016 lên hơn 286,7 nghìn tỉ đồng năm 2023 và
380.561,22 tỉ đồng năm 2024. Giáo dục phổ cập đạt nhiều mốc quan trọng: tiểu học
năm 2000, trung học cơ sở năm 2010, mầm non cho trẻ 5 tuổi năm 2017; đồng thời
có chính sách miễn, hỗ trợ học phí cho một số nhóm người học.
Sự
phát triển vượt bậc của hạ tầng và kinh tế số: Trong những năm gần đây, diện mạo đất nước đã thay đổi
hoàn toàn nhờ sự đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội. Mạng lưới
đường cao tốc, cảng biển và các sân bay hiện đại được hình thành, kết nối các
vùng miền và tạo động lực cho phát triển kinh tế vùng. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ
19% năm 1986 lên trên 45%, biến các đô thị lớn thành những trung tâm văn hóa,
kinh tế hiện đại. Đặc biệt, sự thích ứng nhanh chóng với nền kinh tế số và
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã chứng minh tính năng động của mô hình kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Kinh tế số tại Việt Nam
đang tăng trưởng với tốc độ khoảng 20%/năm, nhanh nhất Đông Nam Á, đóng góp
ngày càng lớn vào GDP. Chính phủ đã chủ động đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng
chính phủ điện tử, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và doanh nghiệp.
Từ thành quả vượt bậc,
“kỳ tích” mà Việt Nam đã đạt được về kinh tế, xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam sau 40 năm đổi mới là minh chứng sắc bén, hiện thực về xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Với những thành
tích vĩ đại đó, việc lựa chọn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam là khoa học, là văn minh.
4.
Kết luận
Từ
lý luận đến thực tiễn phát triển, có thể khẳng định: nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là một mô hình kinh tế sáng tạo, mang tính
thời đại, thể hiện sự vận dụng đúng đắn quy luật khách quan vào điều kiện cụ thể
của đất nước. Những thành tựu vĩ đại sau hơn 40 năm Đổi mới là bằng chứng hùng
hồn nhất để bác bỏ mọi quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định tính
ưu việt vượt trội của chế độ xã hội chủ nghĩa trong việc chăm lo cho đời sống của
Nhân dân. Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận về mô hình kinh tế
này sẽ còn tiếp diễn gay go và phức tạp. Tuy nhiên, với nền tảng lý luận vững
chắc, thực tiễn sinh động và sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta,
Việt Nam chắc chắn sẽ giữ vững định hướng phát triển, tiếp tục hoàn thiện mô
hình kinh tế đặc biệt đó để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc, vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh và thịnh vượng.
Tài liệu tham khảo
1.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, tr. 21.
2.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, tr. 97.
3.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội.
4.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2016). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 67. Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà
Nội.
5.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, tr.77.
6.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, tr. 34.
7.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, tr.102.
8.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, tr. 80.
9.
Đảng Cộng sản Việt
Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, II. Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội.
ThS. Nguyễn Hoàng Yến
Trung
tâm nghiên cứu Xã hội và Môi trường