Chuyển đổi số đang mở rộng chưa từng có không gian học tập, việc làm, kinh doanh và sáng tạo cho phụ nữ. Nhưng cơ hội chỉ trở thành năng lực phát triển khi phụ nữ có kỹ năng số, được bảo vệ trong không gian mạng và có cơ hội tham gia vào những vị trí tạo ra giá trị. Trong bối cảnh Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá phát triển, đầu tư cho năng lực số của phụ nữ cần được nhìn nhận như đầu tư cho nguồn lực quốc gia.
Không
để khoảng cách số trở thành khoảng cách phát triển
Chuyển
đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh, quản trị và tổ chức
đời sống xã hội. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử
và các nền tảng số đang tạo ra những không gian phát triển mới. Trong sự chuyển
động ấy, phụ nữ đứng trước một cơ hội lớn. Một phụ nữ ở nông thôn có thể bán sản
phẩm qua nền tảng thương mại điện tử; một nữ doanh nhân có thể quản trị doanh
nghiệp từ xa; một nữ trí thức có thể kết nối với mạng lưới nghiên cứu quốc tế;
một nghệ nhân có thể đưa sản phẩm thủ công truyền thống đến những thị trường
cách xa hàng nghìn kilomet.
Nhưng
công nghệ không tự động tạo ra bình đẳng. Nếu phụ nữ thiếu thiết bị, thiếu kỹ
năng số, thiếu cơ hội đào tạo hoặc không đủ khả năng bảo vệ mình trên không
gian mạng, quá trình số hóa có thể làm xuất hiện một dạng bất bình đẳng mới:
khoảng cách giới số. Khoảng cách ấy không chỉ nằm ở việc ai có điện thoại thông
minh hay có kết nối internet. Quan trọng hơn là ai có khả năng sử dụng công nghệ
để học tập, tạo thu nhập, khởi nghiệp, tiếp cận tài chính, tham gia quản trị và
tạo ra giá trị mới.
Nghị
quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng
hàng đầu; đồng thời xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể,
nguồn lực và động lực chính. Điều đó đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ nguồn
lực nữ trong tiến trình chuyển đổi số.
Một thay đổi quan trọng
cần tạo ra là thay đổi cách nhìn về vai trò của phụ nữ trong chuyển đổi số. Phụ
nữ không chỉ cần được hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh, ứng dụng số hay
dịch vụ công trực tuyến. Quan trọng hơn là giúp họ chuyển từ người sử dụng công
nghệ sang người tạo ra giá trị bằng công nghệ. Trong kinh tế số, phụ nữ có nhiều
cơ hội phát triển thương mại điện tử, kinh doanh trực tuyến, xây dựng thương hiệu
và kết nối trực tiếp với người tiêu dùng. Công nghệ giúp nhiều phụ nữ vượt qua
giới hạn về mặt bằng, thời gian và khoảng cách địa lý.
Theo
Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, quy mô thương mại điện tử Việt Nam năm
2023 đạt hơn 25 tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng trên 25%. Tuy nhiên, chính VECOM
cũng cảnh báo khoảng cách số và thiếu hụt nguồn nhân lực số đang là những vấn đề
cản trở tính bền vững của thương mại điện tử. Đây là khoảng trống cần được lấp
đầy bằng năng lực, chứ không chỉ bằng thiết bị.
Phụ
nữ còn có vai trò đặc biệt trong hình thành năng lực số của gia đình và cộng đồng.
Trong gia đình, họ thường là người đồng hành gần gũi với trẻ em trong quá trình
tiếp cận công nghệ; ở cơ sở, cán bộ và hội viên phụ nữ có thể trở thành những
“đại sứ số”, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán
không dùng tiền mặt, quảng bá sản phẩm địa phương và tiếp cận thị trường số.
Tổng
cục Thống kê (năm 2024) cho thấy thu nhập bình quân của lao động nữ là 6,5 triệu
đồng/tháng, trong khi lao động nam là 8,7 triệu đồng/tháng. Khoảng cách thu nhập
này cho thấy bài toán bình đẳng giới trong thị trường lao động vẫn còn rất lớn;
chuyển đổi số vì thế phải hướng tới việc mở rộng cơ hội tạo thu nhập và nâng
cao năng suất cho phụ nữ, chứ không chỉ tăng khả năng tiếp cận công nghệ.
Một
thách thức khác là khoảng cách về kỹ năng. Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều
tra các mục tiêu phát triển bền vững của trẻ em và phụ nữ (MICS 2021) cho thấy
72,85% phụ nữ tuổi 15–49 trong mẫu nghiên cứu không có kỹ năng sử dụng công nghệ
thông tin và truyền thông (ICT) theo các nhiệm vụ chuẩn; tỷ lệ này cao hơn rõ rệt
ở phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ nghèo và phụ nữ nông thôn. Kết quả này cho thấy
bài toán lớn hơn không còn là “có kết nối hay không”, mà là “có đủ năng lực để
biến kết nối thành cơ hội hay không”.
Một
nghịch lý khác là công nghệ vừa có thể giải phóng thời gian, vừa làm gia tăng
gánh nặng cho phụ nữ. Làm việc trực tuyến, làm việc từ xa và các nền tảng kết nối
giúp linh hoạt hơn, nhưng nếu định kiến về phân công lao động trong gia đình
không thay đổi, phụ nữ có thể đồng thời phải hoàn thành công việc chuyên môn,
chăm sóc con cái và đảm nhiệm phần lớn việc nhà.
Cùng
với đó là những rủi ro trên không gian mạng: quấy rối trực tuyến, xâm phạm hình
ảnh cá nhân, lừa đảo tài chính, đánh cắp tài khoản và giả mạo bằng công nghệ
deepfake. Một môi trường số thiếu an toàn sẽ làm suy giảm sự tự tin và khả năng
hiện diện của phụ nữ trong nền kinh tế số.
Khoảng
cách giới số càng đáng quan tâm ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Hạn chế về
hạ tầng, thiết bị, điều kiện kinh tế và cơ hội đào tạo kỹ năng số có thể cộng
hưởng với rào cản ngôn ngữ và văn hóa.
Một
nghiên cứu quốc gia dựa trên MICS 2021 cho thấy tỷ lệ phụ nữ DTTS thiếu kỹ năng
kỹ
năng ICT lên tới 92,5%. Tại khu vực Tây Nguyên, tỷ lệ phụ nữ thiếu kỹ năng ICT
cũng thuộc nhóm cao nhất. Những con số này là cảnh báo rõ ràng rằng chính sách
phổ cập số phải được thiết kế theo nhóm đối tượng và địa bàn, không thể áp dụng
một công thức đồng nhất.
Với khu vực DTTS và
miền núi, bài toán còn gắn với bảo tồn và phát huy vốn văn hóa bản địa. Ngôn ngữ
dân tộc, sử thi, văn hóa ẩm thực, lễ hội và tri thức cộng đồng có thể được số
hóa, giới thiệu và kết nối với du lịch, giáo dục và công nghiệp văn hóa. Khi
đó, chuyển đổi số không làm mất đi bản sắc mà có thể trở thành phương tiện để bản
sắc bước vào không gian phát triển mới.
TS. Phạm Thị Xuân Nga, Phó Giám đốc Chi nhánh Viện
KHXH vùng Trung Bộ và Tây Nguyên tham vấn tại Hội thảo khoa học “Thực trạng và
giải pháp nâng cao năng lực số cho người dân vùng DTTS và miền núi”.
Để
phụ nữ thực sự làm chủ công nghệ, cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận “hỗ trợ”
sang “trao quyền”.
Trước
hết,
các chương trình chuyển đổi số ở Trung ương và địa phương cần có chỉ tiêu, dữ
liệu và giải pháp cụ thể về giới. Hiệu quả chuyển đổi số không nên chỉ đo bằng
số người được kết nối internet hay số dịch vụ trực tuyến được cung cấp, mà phải
quan tâm phụ nữ có thực sự sử dụng công nghệ để nâng cao thu nhập, năng suất,
cơ hội học tập và vị thế xã hội hay không.
Thứ
hai,
phải coi đào tạo kỹ năng số cho phụ nữ là đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Các
chương trình cần linh hoạt, thực hành và tập trung vào những kỹ năng có khả
năng tạo giá trị trực tiếp như kinh doanh số, thương mại điện tử, tài chính số,
an toàn thông tin và ứng dụng AI. Trẻ em gái cũng cần được khuyến khích tiếp cận
STEM từ sớm.
Thứ
ba,
cần tạo môi trường thuận lợi để phụ nữ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Các
chương trình tín dụng, tư vấn, cố vấn và kết nối thị trường cần phù hợp hơn với
doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ, nhất là ở nông
thôn và vùng dân tộc thiểu số.
Thứ
tư,
an toàn số phải được coi là điều kiện của bình đẳng giới. Bảo vệ dữ liệu cá
nhân, phòng chống lừa đảo và bạo lực giới trên không gian mạng phải trở thành nội
dung thường xuyên của các chương trình nâng cao năng lực số.
Thứ
năm,
cần phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã
hội trong phổ cập kỹ năng số từ cơ sở. Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn
quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026–2031, đặt mục tiêu đến cuối nhiệm kỳ ít nhất
80% hội viên và 60% phụ nữ đáp ứng yêu cầu năng lực số công dân; 100% Hội Liên
hiệp Phụ nữ các cấp triển khai hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”. Đây là
những mục tiêu có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình xây dựng xã hội số bao
trùm.
Kỷ
nguyên số đang đặt ra một yêu cầu mới: không chỉ số hóa nền kinh tế mà phải số
hóa cơ hội phát triển của con người. Một quốc gia không thể nói đến kinh tế số
hiện đại nếu một bộ phận lớn phụ nữ vẫn đứng ngoài các lĩnh vực công nghệ, đổi
mới sáng tạo và quản trị số. Cũng không thể nói đến một xã hội số bao trùm nếu
phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số còn gặp những rào cản căn bản
trong tiếp cận tri thức và hạ tầng số.
Mục
tiêu cuối cùng không phải là có thật nhiều phụ nữ biết sử dụng công nghệ, mà là
có ngày càng nhiều phụ nữ làm chủ công nghệ, tạo ra giá trị bằng công nghệ và
tham gia quyết định cách công nghệ được sử dụng trong xã hội. Khi một phụ nữ
đưa sản phẩm của gia đình ra thị trường rộng lớn; khi một nữ doanh nhân dùng dữ
liệu và AI để nâng cao năng suất; khi một nữ trí thức tham gia sáng tạo công
nghệ; khi một phụ nữ dân tộc thiểu số số hóa được tri thức văn hóa của cộng đồng
mình; khi một người mẹ đủ năng lực bảo vệ con trước những rủi ro trên mạng - đó
chính là lúc chuyển đổi số tạo ra giá trị xã hội sâu sắc nhất.
Trao cho phụ nữ năng
lực số cũng chính là trao thêm năng lực phát triển cho gia đình, cộng đồng và đất
nước. Thu hẹp khoảng cách giới số hôm nay chính là mở rộng không gian phát triển
của Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.