TỪ NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW ĐẾN HÀNH LANG PHÁP LÝ VỀ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA: CHUYỂN ĐỔI SỐ - ĐỘT PHÁ QUAN TRỌNG HÀNG ĐẦU TRONG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THÔNG MINH VÀ CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA SỐ
Xác định chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã mở ra một giai đoạn mới, nơi chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc. Tinh thần ấy đang được thể chế hóa đồng bộ: Luật Phát triển đô thị (Luật số 18/2026/QH16) đã có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, còn dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Quốc hội xem xét.
Chuyển đổi số - cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện
Theo Nghị quyết
57-NQ/TW, chuyển đổi số là “cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực, được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với
những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”(1). Người dân và doanh
nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính; nhà khoa học là nhân
tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện thuận lợi nhất.
Các mục tiêu đặt
ra đến năm 2030 rất cụ thể:
Kinh tế số chiếm
tối thiểu 30% GDP;
Dịch vụ công trực
tuyến và giao dịch không dùng tiền mặt vượt 80%;
Hạ tầng: phủ sóng
5G toàn quốc;
Đô thị thông
minh: hoàn thành xây dựng đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và
một số tỉnh, thành đủ điều kiện.
Đến năm 2045,
Việt Nam hướng tới trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và
thế giới, nằm trong nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số,
với kinh tế số chiếm tối thiểu 50% GDP(2).
Đô thị thông minh - trọng điểm của chuyển đổi số
Trong cấu trúc
các chính sách phát triển đô thị, chuyển đổi số được xác định là trụ cột then
chốt để xây dựng đô thị thông minh. Nghị quyết 57-NQ/TW yêu cầu tích hợp cảm
biến, ứng dụng công nghệ số vào hạ tầng thiết yếu, phát triển hạ tầng vật lý
số, hạ tầng tiện ích số, đồng thời ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo (AI) dựa
trên dữ liệu lớn vào các ngành, lĩnh vực quan trọng. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp
bách với các đô thị: quản lý, điều hành phải dựa trên dữ liệu; quy hoạch, giao
thông, y tế, giáo dục, môi trường phải được vận hành trên nền tảng số. Mỗi đô
thị không chỉ là không gian sống mà còn phải trở thành “không gian số” có khả
năng tự thích ứng, phục vụ người dân bằng dịch vụ công trực tuyến toàn trình,
cá nhân hóa và dựa trên dữ liệu.
Luật Phát triển
đô thị số 18/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026 với 465/474 đại
biểu tán thành, có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, đã tạo cơ sở pháp lý để các đô
thị đặc biệt và các thành phố khác phát triển đồng bộ về thể chế, hạ tầng, kinh
tế, văn hóa, xã hội và môi trường, đồng thời thúc đẩy liên kết vùng(3).
Hiện các bộ, ngành, địa phương đang triển khai kế hoạch thi hành Luật, trong đó
có công tác tuyên truyền, phổ biến và tập huấn để chính sách sớm đi vào cuộc
sống.
Công nghiệp văn hóa số - trụ cột mới đang được thể chế hóa
Điểm nổi bật trong
bức tranh thể chế là dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được hoàn
thiện để trình Quốc hội. Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt công nghiệp văn hóa số vào
nhóm mục tiêu “phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp
văn hóa số đạt mức cao của thế giới”. Khi được ban hành, đây sẽ là lần đầu tiên
lĩnh vực này có hành lang pháp lý riêng. Theo dự thảo, Luật tập trung vào các
nhóm nội dung: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực; hạ
tầng; thị trường; và tài chính, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư(4) .
Sự kết hợp giữa
công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số mở ra không gian phát triển to lớn: từ nội
dung số, trò chơi điện tử, phim ảnh, âm nhạc đến di sản văn hóa được số hóa.
Đây là lĩnh vực Việt Nam có tiềm năng trở thành điểm sáng của khu vực, nếu biết
khai thác hiệu quả lợi thế văn hóa dân tộc gắn với công nghệ số hiện đại.
Bảy nhóm giải pháp đột phá
Để biến định
hướng thành hiện thực, Nghị quyết 57-NQ/TW đề ra 7 nhóm giải pháp trọng tâm:
(1)
Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy.
(2)
Hoàn thiện thể chế, coi thể chế là lợi thế cạnh tranh.
(3)
Đầu tư hạ tầng và công nghệ chiến lược.
(4)
Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao.
(5)
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.
(6)
Thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
(7)
Tăng cường hợp tác quốc tế.
Nhiệm vụ chuyển
đổi số được cụ thể hóa trong chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của từng
cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kết quả thực hiện là tiêu chí đánh giá
hiệu quả và thi đua, khen thưởng. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát
triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số do Tổng Bí thư làm
Trưởng ban cho thấy quyết tâm chính trị cao nhất trong chỉ đạo, điều hành.
Mỗi người dân, doanh nghiệp cùng hành động
Chuyển đổi số chỉ
thành công khi người dân và doanh nghiệp là chủ thể. Mỗi người có thể bắt đầu
từ những việc cụ thể: sử dụng thành thạo dịch vụ công trực tuyến, thanh toán
không dùng tiền mặt, trang bị kỹ năng số và ý thức an toàn thông tin; doanh
nghiệp chủ động ứng dụng công nghệ, đầu tư sáng tạo nội dung số mang bản sắc
Việt Nam; cán bộ, công chức nêu gương, đổi mới phương thức quản lý dựa trên dữ
liệu.
Từ tầm nhìn chiến
lược của Nghị quyết 57-NQ/TW đến hành lang pháp lý đang được hoàn thiện cho đô
thị thông minh và công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số đã vượt khỏi khái niệm
công nghệ để trở thành xung lực phát triển quốc gia. Thách thức vẫn còn: nhận
thức chưa đầy đủ, hạ tầng số chưa đồng bộ, nhân lực chất lượng cao còn hạn chế.
Song với thể chế được xác định là “điều kiện tiên quyết” và là lợi thế cạnh
tranh, cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, Việt Nam đang
có cơ hội lịch sử để bứt phá trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham
khảo
(1), (2) Bộ Chính
trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(3) Quốc hội
(2026), Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 ngày 24/8/2026.
(4) Quốc hội (2026), Dự thảo Luật Phát triển
công nghiệp văn hóa, Dự thảo 1.0 ngày 04/8/2026.