NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW VÀ NGHỊ QUYẾT 19-NQ/TW: HAI TRỤ CỘT CÙNG HƯỚNG TỚI TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ
Phấn đấu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 là nhiệm vụ lớn của đất nước trên con đường hiện thực hóa khát vọng năm 2045. Muốn đi nhanh và đi xa, Việt Nam cần có động lực mới và một mô hình phát triển mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, chính là hai văn kiện trả lời cho hai yêu cầu đó.
Vì sao phải đổi mới mô hình phát triển?
Sau gần 40 năm Đổi mới,
quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và thứ 4 khu vực
ASEAN; GNI bình quân đầu người đạt 4.970 USD, đưa Việt Nam vào nhóm thu nhập
trung bình cao theo phân loại của Ngân hàng Thế giới. Đó là thành tựu to lớn, nhưng
thành tựu ấy cũng đặt ra thách thức. Mô hình phát triển lâu nay vẫn dựa nhiều
vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động chi phí thấp và gia công, lắp
ráp, trong khi năng suất lao động, năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
và tự chủ chiến lược còn hạn chế. Nếu không đổi mới, Việt Nam khó vượt qua bẫy
thu nhập trung bình. Tăng trưởng hai con số cũng không thể bền vững bằng những
động lực cũ.
Nghị
quyết 57: động lực mới của tăng trưởng
Nghị quyết 57-NQ/TW xác
định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng
hàng đầu và là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn
thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nghị quyết nhấn
mạnh doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo, coi dữ liệu là tài nguyên
mới và yêu cầu đột phá về thể chế, hạ tầng số, nhân lực chất lượng cao.
Nói cách khác, Nghị quyết
57 trả lời câu hỏi “tăng
trưởng nhanh bằng gì?”.
Đó là bằng tri thức, công nghệ, dữ liệu và sức sáng tạo, thay cho vốn, tài
nguyên và nhân công giá rẻ.
Nghị
quyết 19: khung tổng thể của mô hình phát triển mới
Nghị quyết 19-NQ/TW có
ý nghĩa đặc biệt vì đây là lần đầu tiên Trung ương ban hành một nghị quyết
chuyên đề về mô hình phát triển quốc gia, xác lập hệ thống quan điểm, mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp tổng thể cho giai đoạn mới.
Điểm mới nổi bật là bước
chuyển trong tư duy. Nghị quyết không chỉ dừng ở việc nâng tốc độ và chất lượng
tăng trưởng mà hướng tới phát triển đồng bộ các trụ cột kinh tế, xã hội, văn
hóa, con người, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước Tô Lâm khẳng định, đổi mới mô hình phát triển là “đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng
thành quả phát triển”,
lấy Nhân dân làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực.
Các mục tiêu được đặt
ra theo lộ trình:
Đến năm 2030: hoàn thành các nền tảng của mô hình phát triển mới, với trình
độ của một nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình
cao.
Đến năm 2035: cơ bản hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường,
sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập.
Đến năm 2045: trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Nghị quyết 19 trả lời câu hỏi “phát triển theo con đường nào, vì ai, dựa
trên nền tảng gì?”.
Mối quan hệ giữa hai Nghị quyết
Thứ nhất, Nghị quyết 57 là “động cơ”, Nghị quyết 19 là “bản thiết kế tổng thể”.
Nghị
quyết 57 đã đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động
lực chủ yếu của tăng trưởng theo chiều sâu. Nghị quyết 19 kế thừa tinh thần đó
và đặt động lực này vào một chỉnh thể gồm thể chế, quản trị, kinh tế, văn hóa,
con người và môi trường. Nhờ vậy, đổi mới sáng tạo không đứng riêng lẻ mà trở
thành một bộ phận của hệ sinh thái phát triển quốc gia. Nghị quyết 19 cũng yêu
cầu liên kết chặt chẽ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết
quả nghiên cứu, lấy nhu cầu phát triển và doanh nghiệp làm trung tâm.
Thứ hai, hai nghị quyết
cùng chung một mạch tư duy: từ chiều rộng sang chiều sâu. Giá trị gia tăng phải
đến từ chất xám và công nghệ, thay cho khối lượng lao động hay tài nguyên khai
thác. Điều đó được cụ thể hóa trong yêu cầu để khoa học công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số thật sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị
gia tăng, chứ không dừng ở khẩu hiệu.
Thứ ba, cùng được bảo đảm
bằng đột phá thể chế và quản trị hiện đại. Nghị quyết 57 đòi hỏi cơ chế thử
nghiệm, chấp nhận rủi ro, tháo gỡ điểm nghẽn. Nghị quyết 19 đặt đổi mới thể chế
và quản trị quốc gia lên hàng đầu, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo
phát triển. Hai nghị quyết còn gắn với các chủ trương lớn khác như tinh gọn bộ
máy, chính quyền địa phương hai cấp, hoàn thiện pháp luật theo Nghị quyết
66-NQ/TW, phát huy giá trị văn hóa, con người theo Nghị quyết 80-NQ/TW. Tất cả
tạo thành sức mạnh cộng hưởng.
Thứ tư, cùng hướng tới
mục tiêu tăng trưởng hai con số nhưng bền vững. Nghị quyết 57 tạo sức bật về
năng suất. Nghị quyết 19 bảo đảm tăng trưởng đi cùng ổn định vĩ mô, an sinh, bền
vững môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân. Tăng trưởng nhanh mà
không bền vững, hay bền vững mà thiếu động lực đều không đạt mục tiêu 2045.
Thứ năm, cùng khẳng định
vai trò của kinh tế tư nhân và hợp tác quốc tế. Kinh tế tư nhân là động lực
quan trọng nhất của nền kinh tế, doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo.
Thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực
nội sinh, thay vì chỉ thu hút vốn.
Triển
khai trong thực tiễn: từ Nghị quyết đến kết quả
Một thông điệp xuyên suốt
của Hội nghị Trung ương 3 là lãnh đạo không kết thúc ở việc ban hành nghị quyết
mà chỉ hoàn thành khi quyết sách được chuyển hóa thành kết quả cụ thể. Để hai
nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, cần tập trung vào một số việc:
Quán triệt sâu rộng, thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân
dân rằng Nghị quyết 57 và Nghị quyết 19 là một thể thống nhất, không thực hiện
tách rời.
Lượng hóa bằng chỉ tiêu và trách nhiệm cụ thể. Chính phủ đã xác định 40 chỉ
tiêu cụ thể để triển khai Nghị quyết 19, các bộ, ngành, địa phương cần cụ thể
hóa thành chương trình hành động gắn với người đứng đầu.
Đột phá thể chế cho đổi mới sáng tạo, hoàn thiện cơ chế thử nghiệm có kiểm
soát, đầu tư cho hạ tầng số, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy liên kết
viện, trường, doanh nghiệp.
Đồng hành cùng doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp
công nghệ, để họ thành lực lượng nòng cốt về nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ
công nghệ.
Mỗi người dân, mỗi tổ chức cùng tham gia nâng cao kỹ năng số, đổi mới cách
làm việc, ưu tiên sản phẩm Việt, để thành quả phát triển đến với mọi người.
Những tín hiệu tích cực
đã xuất hiện. Kim ngạch xuất nhập khẩu 10 tháng năm 2026 lần đầu vượt mốc 1.000
tỷ USD, cho thấy sức bật của nền kinh tế. Tuy vậy, con đường phía trước còn nhiều
thách thức, từ biến động năng lượng, tỷ giá đến cạnh tranh công nghệ toàn cầu.
Vì thế, quyết tâm chính trị phải đi cùng năng lực thực thi.
Nghị quyết 57 cung cấp
động lực, Nghị quyết 19 định hình mô hình, hai nghị quyết bổ trợ cho nhau trong
một chỉnh thể. Khi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực
chính, khi thể chế được khơi thông và con người được đặt ở vị trí trung tâm, mục
tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không chỉ là con số trên giấy mà là kết quả của
một nền kinh tế tự cường, sáng tạo, nhân văn và bền vững.
Quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đồng bộ hai nghị
quyết này là trách nhiệm và cũng là cơ hội để mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi doanh
nghiệp và mỗi người dân cùng góp sức đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn
mình.