KHI TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG GẶP CÔNG NGHỆ SỐ: VAI TRÒ CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI Ở TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN TRONG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW
Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Gần hai năm sau, câu hỏi đặt ra với mỗi cơ quan, mỗi cán bộ không còn là “có thực hiện hay không” mà là “thực hiện bằng thế mạnh nào của mình”. Với những người làm khoa học xã hội ở Trung Bộ và Tây Nguyên, câu trả lời nằm ở tri thức về con người, văn hóa và xã hội của một vùng đất rộng lớn, giàu di sản, nhiều khác biệt về điều kiện phát triển. Thời gian tới, mỗi cơ quan, cán bộ cần nghiêm túc nghiên cứu nội dung cốt lõi của Nghị quyết, đối chiếu với tiến độ thực hiện và đề xuất những việc cụ thể mà đội ngũ nghiên cứu viên có thể làm ngay.
Nghị quyết 57 và hệ thống văn bản
triển khai
Những mục tiêu được
lượng hóa
Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu để phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Điểm khác
biệt so với nhiều chủ trương trước đây là các mục tiêu được đặt ra bằng con số
cụ thể(1). Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 3 nước dẫn
đầu Đông Nam Á và nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và
chính phủ điện tử; kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; chi cho nghiên cứu và phát
triển đạt 2% GDP, trong đó trên 60% từ nguồn xã hội; trên 80% người dân và
doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đến năm 2045, kinh tế số đạt tối
thiểu 50% GDP và Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số.
Hình 1. Các mục tiêu chính
của Nghị quyết 57-NQ/TW -
Nguồn: Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22/12/2024
Dữ liệu được coi là
tư liệu sản xuất
Với giới nghiên
cứu xã hội, nội dung đáng chú ý nhất của Nghị quyết là cách tiếp cận dữ liệu.
Nghị quyết coi dữ liệu là tư liệu sản xuất quan trọng; yêu cầu xác lập quyền sở
hữu và giao dịch dữ liệu, phát triển thị trường dữ liệu, xây dựng các cơ sở dữ
liệu lớn mang tính chủ quyền, hoàn thiện Trung tâm dữ liệu quốc gia và bảo đảm
dữ liệu quốc gia, dữ liệu địa phương được kết nối, chia sẻ. Về khoa học xã hội,
các nội dung liên quan trực tiếp nằm ở yêu cầu nâng cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam và ở định hướng phát triển văn hóa số gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc(2).
Từ Nghị quyết đến
luật, nghị định và chương trình hành động
Chủ trương được
cụ thể hóa khá nhanh. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/NQ-CP (đầu tháng
1/2025) với bảy nhóm nhiệm vụ: nâng cao nhận thức và đổi mới tư duy; hoàn thiện
thể chế; tăng đầu tư và hoàn thiện hạ tầng; phát triển nhân lực; đẩy nhanh
chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ; thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong
doanh nghiệp; tăng cường hợp tác quốc tế(3). Luật Dữ liệu số
60/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, gồm 5 chương, 46 điều, lần đầu tạo
khuôn khổ pháp lý riêng về xây dựng, quản trị, bảo vệ và sử dụng dữ liệu số(4).
Một chi tiết có
liên quan trực tiếp đến vùng Trung Bộ và Tây Nguyên là Quỹ Phát triển dữ liệu
quốc gia. Theo Nghị định 160/2025/NĐ-CP, quỹ có vốn điều lệ tối thiểu 1.000 tỷ
đồng, hỗ trợ hạ tầng dữ liệu và ứng dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ
liệu lớn, chuỗi khối, với ưu tiên cho nông thôn, miền núi và hải đảo(5).
Đây là cơ hội để các đề tài, dự án số hóa tri thức vùng tìm nguồn lực, miễn là
được thiết kế bài bản.
Một năm thực hiện:
những gì đã đạt và khoảng cách còn lại
Tại hội nghị đánh
giá một năm triển khai ngày 18/12/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo một số
kết quả(6):
Kinh tế số tăng
trưởng 8,6%; doanh thu ngành công nghiệp công nghệ thông tin tăng 26%.
Xếp hạng chính
phủ điện tử là 71; chỉ số hạ tầng viễn thông tăng 41 bậc, lên hạng 67; tốc độ
internet tăng 42 bậc, lên hạng 18.
Xếp hạng đổi mới
sáng tạo toàn cầu là 44/139 nền kinh tế; có khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi
nghiệp đổi mới sáng tạo, trong đó 2 kỳ lân.
Hơn 24 triệu
người dùng chữ ký số, gấp 37 lần so với trước; toàn bộ công dân từ 14 tuổi trở
lên đã có căn cước công dân.
Về tỷ trọng kinh
tế số trong GDP, báo chí đưa tin kết quả sơ kết ở mức khoảng 14% GDP (7),
còn Bộ Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu khoảng 14,5% GDP cho năm 2026. Nếu
lấy 14,5% làm mốc, để đạt 30% vào năm 2030 thì kinh tế số phải tăng thêm khoảng
3,9 điểm phần trăm tỷ trọng mỗi năm (15,5 điểm chia cho 4 năm; đây là phép tính
của tác giả, mang tính tham khảo). Cùng tài liệu này, Bộ cho biết ưu tiên năm
2026 là chuyển từ xây dựng thể chế sang tổ chức thực hiện(8). Chính
giai đoạn “thực hiện” này là nơi nghiên cứu khoa học xã hội có nhiều đóng góp
nhất.
Vì sao khoa học xã hội không đứng
ngoài cuộc
Có bốn lý do để
người làm khoa học xã hội coi Nghị quyết 57 là việc của mình.
Thứ nhất, nguyên
liệu của dữ liệu là đời sống xã hội. Khi dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất,
giá trị của một kho dữ liệu phụ thuộc vào chất lượng và tính đại diện của nó.
Dữ liệu về dân cư, ngôn ngữ, sinh kế, di cư, tín ngưỡng, di sản chỉ đáng tin
khi được thu thập, chuẩn hóa và diễn giải bằng phương pháp khoa học xã hội.
Công nghệ lưu trữ được mọi thứ, nhưng không tự biết thứ gì đáng lưu và lưu như
thế nào cho đúng.
Thứ hai, dịch vụ
số chỉ hiệu quả khi hiểu người dùng. Chỉ tiêu trên 80% người dân, doanh nghiệp
dùng dịch vụ công trực tuyến sẽ chỉ có ý nghĩa nếu người dùng thực sự dùng
được. Nghiên cứu về vùng đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy tỷ lệ hồ sơ nộp
trực tuyến chưa phản ánh đúng kỹ năng số, vì có người vẫn phải nhờ người khác
thao tác thay(9). Muốn biết ai đang bị bỏ lại phía sau, cần khảo sát
xã hội học, không thể chỉ nhìn số liệu hành chính.
Thứ ba, chuyển
đổi số có rủi ro xã hội cần được theo dõi. Khoảng cách số, lừa đảo trực tuyến,
việc làm thay đổi, quyền của cộng đồng đối với tri thức của mình khi tư liệu
được số hóa và chia sẻ là những vấn đề đạo đức và pháp lý mới. Luật Dữ liệu
chọn cơ chế hậu kiểm và giao cơ quan nhà nước trách nhiệm lớn trong bảo đảm an
toàn dữ liệu(10); khoa học xã hội cần cung cấp bằng chứng về tác
động thực tế để hậu kiểm ấy có căn cứ.
Thứ tư, văn hóa
là nền tảng của kinh tế số bền vững. Nghị quyết nhấn mạnh phát triển văn hóa số
gắn với bản sắc dân tộc(11). Ở Tây Nguyên, nơi di sản cồng chiêng
được UNESCO vinh danh, hay ở dải đất miền Trung với Cố đô Huế, phố cổ Hội An,
Thánh địa Mỹ Sơn, số hóa di sản vừa là bảo tồn, vừa là chất liệu cho du lịch số
và công nghiệp văn hóa. Làm đúng thì tạo sinh kế, làm sai thì thương mại hóa
hoặc làm méo văn hóa.
Công nghệ trả
lời câu hỏi “làm thế nào”. Khoa học xã hội giúp trả lời câu hỏi “cho ai” và
“giữ lại điều gì”.
Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam đã có định hướng riêng. Theo một bài nghiên cứu đăng trên
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 6/2025, Viện Hàn lâm đặt mục tiêu trở thành
trung tâm nghiên cứu trọng điểm ngang tầm các nước tiên tiến vào năm 2030, tầm
nhìn đến 2045, thông qua đổi mới thể chế, triển khai các đề án trọng yếu và
định hướng nghiên cứu lớn(12). Các viện thành viên, trong đó có Viện
Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, là lực lượng triển khai ở địa bàn.
Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và
Tây Nguyên: vị thế và lợi thế
Viện có bề dày lịch sử hình thành. Từ năm 2003, Viện
Hàn lâm đề xuất lập một viện khu vực để mở rộng nghiên cứu khoa học xã hội ở
địa phương; năm 2005 Viện được thành lập; năm 2008 đổi tên thành Viện Phát
triển bền vững vùng Trung Bộ; tháng 12/2012 đổi tên thành Viện Khoa học xã hội
vùng Trung Bộ. Ngày 31/3/2025, Viện hợp nhất với Viện khoa học xã hội ở Tây Nguyên để
thành Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, trụ sở tại Đà Nẵng, là
đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ thuộc Viện Hàn lâm. Chức năng chính của Viện là nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn khoa học xã hội của vùng, cung cấp luận cứ khoa học cho chiến
lược, quy hoạch, chính sách phát triển, tư vấn chính sách, tham gia đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực khoa học xã hội của vùng(13).
Sự hợp nhất này
tạo ra một lợi thế đáng kể: lần đầu một đơn vị nghiên cứu có thể nhìn dải đất
từ ven biển miền Trung đến cao nguyên như một không gian phát triển liên thông,
với những mối quan hệ về dân cư, sinh kế, giao thương và văn hóa. Đơn vị đã có
tạp chí chuyên ngành là Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, và đã công bố các
nghiên cứu về chuyển đổi số ở địa bàn, chẳng hạn bài về vai trò của truyền
thông số trong xây dựng công dân số tại các địa phương khu vực Tây Nguyên
(2026). Bài này kết luận hạ tầng chưa đồng đều, nguồn nhân lực còn hạn chế và
cần chiến lược truyền thông số đa kênh phù hợp từng địa bàn(14).
Bốn hướng hành động của nghiên cứu
viên
Từ phân tích
trên, để gắn nhiệm vụ chuyên môn với yêu cầu của Nghị quyết 57. Đây là đề xuất
mang tính định hướng, cần được cụ thể hóa theo kế hoạch khoa học của đơn vị.
|
Hướng hành động
|
Việc làm cụ thể
|
Sản phẩm đầu ra
|
Căn cứ
|
|
1. Số hóa tư liệu điền dã
và di sản
|
Chuyển ghi chép, băng ghi âm, ảnh,
bản đồ, tài liệu Hán Nôm thành dữ liệu có cấu trúc, gắn siêu dữ liệu và tọa
độ; thống nhất quy chuẩn lưu trữ.
|
Kho dữ liệu số của đơn vị; bộ dữ
liệu mở có phân quyền
|
Nghị quyết 57 (dữ liệu là tư liệu
sản xuất; văn hóa số); Luật Dữ liệu
|
|
2. Dữ liệu phục vụ hoạch
định chính sách vùng
|
Chuẩn hóa các cuộc điều tra, khảo
sát về sinh kế, di cư, giáo dục, y tế, dân tộc; liên thông với cơ sở dữ liệu
của ngành và địa phương.
|
Bộ chỉ số vùng; báo cáo tham mưu có
số liệu
|
Chức năng cung cấp luận cứ khoa học
cho chính sách của Viện
|
|
3. Nghiên cứu tác động xã
hội của chuyển đổi số
|
Khảo sát kỹ năng số thực tế của
nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, lao động di cư; theo dõi
ai bị bỏ lại phía sau và vì sao.
|
Báo cáo khảo sát; khuyến nghị chính
sách; bài đăng tạp chí
|
Chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến;
cảnh báo về chỉ số hồ sơ trực tuyến
|
|
4. Truyền thông khoa học và
nâng cao kỹ năng số cộng đồng
|
Đưa kết quả nghiên cứu về lại cộng
đồng bằng ngôn ngữ dễ hiểu, nội dung bản địa hóa; áp dụng nguyên tắc đạo đức
dữ liệu: có sự đồng thuận, tôn trọng quyền của cộng đồng đối với tri thức của
mình.
|
Ấn phẩm, video ngắn, tập huấn; bộ
quy tắc đạo đức dữ liệu của đơn vị
|
Nghị quyết 03/NQ-CP (nâng cao nhận
thức, phát triển nhân lực)
|
Hình 2. Hành trình của một dữ liệu khoa học xã hội, từ thực địa đến
chính sách (định hướng triển khai)
Gỡ “khoảng cách số” ở vùng đồng bào
dân tộc thiểu số
Hướng thứ ba và
thứ tư gặp nhau ở một vấn đề thực tế của Tây Nguyên và miền núi Trung Bộ. Báo
Nhân Dân ngày 16/9/2026 ghi lại ý kiến của các nhà nghiên cứu về ba rào cản:
ngôn ngữ (nền tảng số chủ yếu dùng tiếng Việt phổ thông và thuật ngữ hành
chính), văn hóa (không gian số đề cao cá nhân trong khi nhiều cộng đồng truyền
đạt tri thức qua sinh hoạt chung) và tài chính (hộ nghèo ưu tiên chi phí thiết
yếu hơn thiết bị và internet). Một cán bộ cơ sở ở Đăk Liêng (Đắk Lắk) cho biết
nhiều người có điện thoại thông minh nhưng chưa biết tạo tài khoản, còn yếu về
xác thực điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và nhận diện lừa đảo(15).
Từ góc nhìn đơn vị, TS. Phạm Thị Xuân Nga đề xuất
chuyển từ “đưa công nghệ đến” sang “trao năng lực”, bắt đầu bằng điều tra số
liệu theo bản, làng, xã và xây dựng mạng lưới hỗ trợ tại cộng đồng(16).
Cách tiếp cận này cho thấy nhiệm vụ nghiên cứu và nhiệm vụ tuyên truyền có thể
làm cùng một lúc: mỗi cuộc khảo sát vừa thu dữ liệu, vừa là dịp trao đổi với
người dân về dịch vụ số.
Điều kiện và rủi ro cần tính đến
Quyền của cộng
đồng đối với tri thức: Tư liệu về nghi lễ, tri thức dân gian, ngôn ngữ của các cộng đồng cần
được số hóa với sự đồng thuận, có quy định rõ ai được truy cập, dùng vào mục
đích gì. Đây là điểm mà dữ liệu mở và dữ liệu nhạy cảm phải được phân biệt rõ.
An toàn và phân
loại dữ liệu:
Luật Dữ liệu yêu cầu phân loại dữ liệu và có giải pháp bảo vệ(17).
Đơn vị cần có quy trình nội bộ về phân loại, lưu trữ, sao lưu và chia sẻ trước
khi mở rộng số hóa.
Năng lực và nguồn
lực:
Nhân lực vừa hiểu phương pháp khoa học xã hội vừa có kỹ năng dữ liệu còn mỏng.
Cần đào tạo tại chỗ, hợp tác với trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và tận
dụng các nguồn hỗ trợ như Quỹ Phát triển dữ liệu quốc gia.
Đo lường đúng cái
cần đo:
Tránh lấy số hồ sơ trực tuyến hay số người tải ứng dụng làm thước đo thành
công; cần chỉ số về khả năng tự sử dụng và mức độ hài lòng của nhóm yếu thế(18).
Thông
điệp tuyên truyền
Nghị
quyết 57 không chỉ là chuyện công nghệ, mà là chuyện của mọi cơ quan, mọi người
dân.
Số
hóa tri thức vùng đất là bảo tồn và tạo sinh kế, nếu làm cùng cộng đồng và tôn
trọng quyền của cộng đồng.
Chuyển
đổi số chỉ thành công khi không ai bị bỏ lại phía sau.
|
Kênh
|
Nội dung gợi ý
|
Đối tượng
|
|
Bản tin, trang thông tin của Viện
|
Bài phân tích kèm infographic; tin
hoạt động số hóa tư liệu
|
Cán bộ, nghiên cứu viên, cơ quan
phối hợp
|
|
Mạng xã hội (fanpage, Zalo)
|
Infographic 1 phút; video ngắn về
“một dữ liệu đi qua những bước nào”
|
Công chúng, thanh niên
|
|
Hội thảo, tọa đàm khoa học
|
Công bố kết quả khảo sát kỹ năng
số; trao đổi với sở, ngành địa phương
|
Cơ quan quản lý, nhà khoa học
|
|
Tập huấn tại cộng đồng
|
Nội dung bản địa hóa, phụ đề tiếng
dân tộc; hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến, nhận diện lừa đảo
|
Người dân, già làng, trưởng bản,
cán bộ cơ sở
|
|
Tạp chí chuyên ngành
|
Bài nghiên cứu về tác động xã hội
của chuyển đổi số
|
Giới nghiên cứu
|
Nghị quyết 57 đặt
ra yêu cầu lớn nhưng cũng mở ra không gian đóng góp rộng cho khoa học xã hội.
Khi tri thức về vùng đất, con người và văn hóa Trung Bộ và Tây Nguyên được số
hóa, kết nối và sử dụng đúng cách, nó không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành
nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững và công bằng. Với mỗi nghiên cứu viên,
việc cần làm bắt đầu từ chính công việc hằng ngày: thu thập có chuẩn mực, lưu
trữ có trách nhiệm, chia sẻ có kiểm soát và luôn đặt con người ở trung tâm.
Tài liệu tham khảo
(1) (2) (11) Bộ
Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(3) Chính phủ
(2025), Nghị quyết số 03/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết
57-NQ/TW.
(4) (5) (10) (17)
Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15, có hiệu lực từ 1/7/2025; Báo Nhân
Dân, Luật Dữ liệu xây dựng niềm tin số và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện (nội
dung Luật, Quỹ Phát triển dữ liệu quốc gia theo Nghị định 160/2025/NĐ-CP). https://nhandan.vn/luat-du-lieu-xay-dung-niem-tin-so-va-thuc-day-chuyen-doi-so-toan-dien-post890961.html
(6) Thu Giang
(18/12/2025), Một năm triển khai Nghị quyết 57: Chuyển đổi số tăng tốc, đổi mới
sáng tạo khởi sắc, Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn/mot-nam-trien-khai-nghi-quyet-57-chuyen-doi-so-tang-toc-doi-moi-sang-tao-khoi-sac-102251218172236986.htm
(8) Trung tâm
Truyền thông Khoa học và Công nghệ (3/4/2026), Từ dữ liệu đến tăng trưởng: Hành
trình hiện thực hóa Nghị quyết 57, Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công
nghệ. https://mst.gov.vn/tu-du-lieu-den-tang-truong-hanh-trinh-hien-thuc-hoa-nghi-quyet-57-197260403094838219.htm
(7) VOV, Sơ kết
thực hiện Nghị quyết số 57: Kinh tế số đạt 14% GDP, hơn 84% nhiệm vụ hoàn thành
đúng hạn. http://vov.vn/chinh-tri/so-ket-thuc-hien-nghi-quyet-so-57-kinh-te-so-dat-14-gdp-hon-84-nhiem-vu-hoan-thanh-dung-han-post1311406.vov
(12) Nguyễn Thị
Thu Hà (2025), Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (theo tinh thần Nghị
quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024), Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6, tr.
31. https://vjol.info.vn/khxhvn/article/view/121115
(14) Phan Xuân
Thủy, Trần Văn Toàn (2026), Vai trò của truyền thông số trong xây dựng công dân
số tại các địa phương khu vực Tây Nguyên, Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung,
tập 91, số 02 (15/4/2026). https://www.vjol.info.vn/isscr/vi/article/view/184118
(9) (15) (16)
(18) Vũ Quỳnh Trang (16/9/2026), Thay đổi tư duy để thu hẹp khoảng cách số, Báo
Nhân Dân. https://nhandan.vn/thay-doi-tu-duy-de-thu-hep-khoang-cach-so-post988781.html
(13) Viện Khoa học
xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên, Lịch sử phát triển. https://isscrh.vass.gov.vn/lich-su-phat-trien